Khoa học tiết kiệm và công nghệ

Tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) với các chức năng Nghiên cứu khoa học, Nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ ngày càng chứng minh vai trò quan trọng trong chương trình CNH-HĐH của tỉnh . Những chính sách, biện pháp thay đổi mới hoạt động của các tổ chức này cần được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả Nghiên cứu sáng tạo, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo hướng liên kết với đời sống và sản xuất.

Theo Sở KH&CN, Bắc Ninh hiện có 20 tổ chức và chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức KH&CN được cấp Giấy chứng nhận hoạt động dưới nhiều hình thức. Theo cơ quan quản lý có 2 tổ chức KH&CN thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Trung tâm Phát triển biển công nghệ cao và Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản); 4 tổ chức KH&CN do UBND tỉnh quản lý (Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế -xã hội; Trung tâm Kiểm soát bệnh tật; Trung tâm Quản lý tài nguyên và môi trường; Trung tâm Ứng dụng và Dịch vụ KH&CN); 10 tổ chức KH&CN ngoài công lập, 4 chi nhánh của KH&CN tổ chức. Theo lĩnh vực hoạt động 9 tổ chức trong lĩnh vực y dược; 9 tổ chức khoa học kỹ thuật và công nghệ; 4 tổ chức khoa học nông nghiệp và 2 tổ chức khoa học xã hội. Hoạt động theo chức năng có 4 cơ sở nghiên cứu tổ chức và ứng dụng, còn lại 16 đơn vị có dịch vụ chức năng. Tổng số nhân lực của các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh là 422 người, trong đó có 12 tiến sĩ trình độ, 154 trình độ tiến sĩ, 256 trình độ đại học và cao đẳng. Về độ tuổi, số nhân lực dưới 45 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao (72%).
Phát huy vai trò của mình, các tổ chức KH&CN thực hiện tốt chức năng Nghiên cứu, triển khai nhiều nhiệm vụ KH&CN, đa dạng hóa dịch vụ đáp ứng nhu cầu về quản lý nhà nước và khách hàng. Một số tổ chức KH&CN có thế mạnh nghiên cứu về môi trường, y học, xã hội học, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công ty phát triển, … đưa ra những dự án, đề tài mới có giá giá trị kinh tế cao và nghĩa là xã hội lớn. Rất nhiều dự án, mô hình trong lĩnh vực nông nghiệp, môi trường bảo vệ, năng lượng sạch được nhân rộng hiệu quả trong thực tế.
Tuy nhiên, đánh giá cao, các tổ chức KH&CN bổ sung ở các ngành, các lĩnh vực chưa đồng đều, chủ yếu là dịch vụ hoạt động, công việc thực hiện chức năng nghiên cứu và ứng dụng tập trung ở các khối cài đặt nhưng số lượng hạn chế, không có sự phá vỡ mang tầm quốc gia. Nguồn nhân lực tại các công ty KH&CN tổ chức và bên ngoài các công cụ khác nhau được xác định, bộ số có trình độ từ thạc sĩ trở lên ở khối công nghệ chiếm tỷ lệ lớn. Nhìn chung, với yêu cầu phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế như hiện nay thì nguồn nhân lực KH&CN vẫn còn tự do cả về số lượng và chất lượng.
Để xây dựng và phát triển mạng lưới tổ chức KH&CN tốt, Sở KH&CN tỉnh đề ra một số định hướng: Quy hoạch và đào tạo phát triển nguồn nhân lực theo hướng đồng bộ, cân đối trên từng lĩnh vực, chuyên ngành phục vụ Nghiên cứu, chuyển giao và công nghệ ứng dụng trong sản xuất. Định hướng, xây dựng các điểm quan trọng của KH&CN nhiệm vụ, có tiêu điểm; Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chuyển giao các thành viên KH&CN. Xây dựng một số định dạng chính sách, thiết bị hỗ trợ phát triển KH&CN thuộc các lĩnh vực ưu tiên như: tài trợ đặc quyền, dự án, hoạt động sở hữu trí tuệ, bảo hộ sản phẩm nhãn hiệu … chính sách đào tạo, thu hút nguồn nhân lực, khuyến khích tham gia tư vấn, Nghiên cứu của các nhà khoa học đầu ngành. Xây dựng mối liên kết giữa 4 nhà: nhà quản lý, nhà khoa học, nhà đầu tư và nhà sản xuất; setup đàn để tạo ra sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức KH&CN, các trường đại học và doanh nghiệp.
Về phía mình, các tổ chức KH&CN cần chủ động tìm kiếm các nguồn kinh phí hỗ trợ để xã hội hóa nghiên cứu hoạt động và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới; tăng cường tác động, liên kết với viện, đại học, nghiên cứu cơ sở trong và ngoài nước nhằm nâng cao năng lực, bộ định lượng tại đơn vị; tiếp tục làm tốt công tác tham mưu, tư vấn, xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách phát triển chung của tỉnh.

About the Author Tuyet Bang

Leave a Comment: